VnEconomy > Doanh nhân 14:07 (GMT+7) - Thứ Ba, 17/3/2009

Tăng trưởng GDP của Việt Nam năm nay: Vì sao dự báo 0,3%?

Tập đoàn báo chí The Economist (Anh) vừa có dự báo gây sốc về tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2009...

Tăng trưởng GDP của Việt Nam năm nay: Vì sao dự báo 0,3%?

Theo báo cáo được ông Justin Wood - Giám đốc Khu vực Đông Nam Á của EIU - trình bày trước báo giới hôm 16/3, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể chỉ đạt 0,3% trong năm 2009.

Sau khi đạt tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm liền, GDP của Việt Nam đã “rơi” xuống mức 6,23% trong năm 2008.

Những nhận định ngày càng bi quan về con số tăng trưởng của Việt Nam liên tục được các tổ chức tín dụng quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng HSBC… công bố.

Và con số gây sốc nhất, cho đến lúc này, thuộc về Economist Intelligence Unit (EIU) - cơ quan thông tin kinh tế thuộc tập đoàn báo chí The Economist (Anh).

Theo báo cáo được ông Justin Wood - Giám đốc Khu vực Đông Nam Á của EIU - trình bày trước báo giới hôm 16/3, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể chỉ đạt 0,3% trong năm 2009. Thông tin này hứa hẹn sẽ gây ra nhiều tranh luận tại hội nghị kinh tế đối ngoại với Chính phủ Việt Nam, có chủ đề “Định vị Việt Nam trong tương lai”, do báo Thế giới và Việt Nam của Bộ Ngoại giao phối hợp với The Economist tổ chức tại Hà Nội trong hai ngày 17 và 18/3.

Bảo vệ cho quan điểm của mình trước những phản biện của báo giới, ông Justin Wood cho rằng mức tăng trưởng này được tính toán dựa trên các tác động từ bên ngoài vào. Ba động lực cho tăng trưởng kinh tế là xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng sẽ giảm mạnh trong năm nay, đối với trường hợp của Việt Nam.

Theo ông Justin Wood, với nền kinh tế mà “ngưỡng” mở tới 1,7 lần so với GDP như Việt Nam, thì với việc thị trường tiêu thụ thế giới co hẹp, nhập khẩu của các thị trường chính như Mỹ, EU, Nhật Bản dự tính giảm khoảng 52% trong năm nay, chắc chắn xuất khẩu của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nặng nề.

Đối với đầu tư nước ngoài, EIU dự báo FDI toàn cầu sẽ giảm khoảng 70% trong năm nay. Đối với Việt Nam, giải ngân vốn FDI trong năm 2009 sẽ “tụt dốc” từ mức khoảng 7,6 tỷ USD trong năm 2008, xuống chỉ còn xấp xỉ 2,2 tỷ USD trong năm nay. Điều này sẽ tác động ngược, hạn chế tăng trưởng năng lực sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam.

Bản báo cáo của EIU được trình bày trước các thành viên Chính phủ vào sáng nay, 17/3.

Liên quan đến con số dự báo 0,3% tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm nay, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Justin Wood.

Hội nghị quốc tế về kinh tế đối ngoại với Chính phủ Việt Nam năm 2009 diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang đi xuống. Liên quan đến vấn đề dự báo về kinh tế toàn cầu năm 2009, EIU rõ ràng là bi quan hơn bất kỳ một tổ chức nào. Vì sao vậy thưa ông?

Tôi cho rằng hầu hết mọi người đều đón nhận một thực tế là nền kinh tế toàn cầu trong năm 2009 sẽ yếu đi và dự báo của chúng tôi là nó sẽ có mức tăng trưởng -1,8%.

Đã qua rồi giai đoạn của bong bóng tín dụng lớn nhất trong lịch sử, khi mà đồng tiền thừa thãi và rẻ mạt. Mặt trái của nó là các nền kinh tế phương Tây (đặc biệt là kinh tế Mỹ và Anh) đạt mức nợ kỷ lục.

Bây giờ chúng ta đang trải qua thời kỳ “trả giá” cho giai đoạn quá mức đó. Các ngân hàng đang xem xét lại bảng cân đối tài tài chính và không cho vay nữa. Người tiêu dùng cắt giảm nợ và chi tiêu ít hơn. Sự lo ngại rủi ro thì tăng lên rất cao và thị trường tài chính vẫn đang rất căng thẳng.

Trong môi trường người tiêu dùng không chi tiêu và ngân hàng không cho vay như vậy, các nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng. Dù các khu vực mới nổi của nền kinh tế thế giới, chẳng hạn,  như châu Á không tham gia vào quá trình hình thành nợ đó, các khu vực này cũng bị tổn thương nghiêm trọng.

Nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của khu vực bị giảm đi và các nhà đầu tư cũng thoái lui, làm cho tiền tệ và thị trường chứng khoán chịu nhiều áp lực và làm cho việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn.

EIU đã đưa ra dự đoán là GDP trong năm 2009 của Việt Nam sẽ tăng chỉ có 0,3%, thấp hơn khoảng 5% so với con số tăng trưởng GDP thấp nhất từng được ghi nhận vào thời điểm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tại Đông Á cách đây hơn một thập kỷ. Tại sao tình hình hiện nay lại ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam tồi tệ hơn so với tác động của cuộc khủng hoảng đó?

Điều đầu tiên cần phải nói đó là dù dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam mà chúng tôi đưa ra nhìn có vẻ thấp, trên thực tế, nó còn tốt hơn rất nhiều so với hầu hết các quốc gia châu Á khác.

Ví dụ, chúng tôi dự báo rằng GDP của một số nền kinh tế sẽ giảm xuống mức âm, như Singapore (-7,2%), Đài Loan (- 5,5%), Nhật Bản (-5,5%). Chúng tôi chỉ thấy một số ít nền kinh tế có khả năng tăng trưởng vào năm nay (các trường hợp ngoại lệ là Trung Quốc tăng trưởng 6%, Ấn Độ 5% và Indonesia 1.5%).

Tại sao nền kinh tế Việt Nam sẽ yếu hơn? Đầu tiên là do xuất khẩu: Việt Nam đã rất thành công trong việc phát triển các ngành công nghiệp phục vụ xuất khẩu, nhưng trong năm nay nhu cầu đối với các mặt hàng xuất khẩu đã giảm mạnh. Việc xuất khẩu của các nước khu vực châu Á đã “rơi” xuống mức đáng báo động do người tiêu dùng ở Mỹ, châu Âu và các thị trường khác cắt giảm chi tiêu.

Thứ hai là do tiêu dùng. Với tỷ lệ thất nghiệp gia tăng (vì những vấn đề phát sinh trong các khu vực sản xuất hàng xuất khẩu) và thu nhập bị giảm do lạm phát cao trong năm 2008, tiêu dùng cá nhân sẽ bi cắt giảm.

Thứ ba là vì đầu tư. Đầu tư phát triển mạnh trong những năm qua nhờ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ồ ạt chảy vào Việt Nam. Tuy nhiên với khủng hoảng tín dụng và sự suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, dòng vốn này sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Các công ty nước ngoài có nhiều tiền mặt sẽ hết sức thận trọng, trong khi những công ty thiếu tiền mặt sẽ phải xoay sở để  huy động vốn.

Ngoài ra, rất nhiều khoản đầu tư đã được dành vào việc xây dựng các cơ sở mới phục vụ cho xuất khẩu, do vậy ý định xây dựng các nhà máy mới sẽ giảm đi nhiều. Thị trường bất động sản đang đi xuống cũng làm ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư.

Còn về các biện pháp kích cầu thì sao? Thật khó để có thể biết một cách rõ ràng việc chính phủ sẽ có thực hiện hỗ trợ như thế nào với các biện pháp này. Chính phủ đã đưa ra nhiều tuyên bố, tuy nhiên đến giờ vẫn chưa rõ là mọi việc sẽ được thực hiện như thế nào, bao nhiêu tiền sẽ được bỏ ra. Chúng tôi tin rằng Chính phủ sẽ làm mọi cách có thể để giải quyết vấn đề này.

Còn về vấn đề tại sao cuộc khủng hoảng này sẽ tác động đến Việt Nam tồi tệ hơn cuộc khủng hoảng trước đây,  là vì trong thập kỷ qua, Việt Nam đã hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu, do đó chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ các sự kiện toàn cầu nhiều hơn 10 năm trước đây.

Đối với châu Á nói chung, trong cuộc khủng hoảng năm 1997 - 1998, cả khu vực đã có thể tìm một lối thoát theo cách riêng của mình. Ví dụ, trong năm 1998, kinh tế Mỹ tăng trưởng 4,2%, có nghĩa là nhu cầu đối với hàng xuất khẩu từ châu Á rất lớn. Năm nay, kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng -2,5%, đồng nghĩa với việc nhu cầu này giảm đi rất nhiều.  

Vào tháng 4 năm 2008, trong một bài báo có tựa đề “Việt Nam: Một điều kỳ diệu khác của châu Á”, tạp chí The Economist đã đưa ra những nhận xét hết sức tích cực về nền kinh tế Việt Nam. Các ông có tiếp tục tán thành những đánh giá lạc quan đó hay không?

Quan điểm của chúng tôi là trong ngắn hạn, Việt Nam sẽ đối mặt với một môi trường kinh tế đầy thách thức và đạt mức tăng trưởng thấp. Tuy nhiên trong trung và dài hạn, Việt Nam thể hiện là một điểm đến hấp dẫn cho nhà đầu tư nước ngoài.

Quá trình công nghiệp hóa đang tiếp diễn tại đất nước này, việc xây dựng cơ sở hạ tầng, mức lương tăng, đời sống phồn vinh hơn, nền kinh tế tiếp tục được cải tổ, nguồn nhân lực trẻ là những lí do để chúng ta có thể lạc quan.

Tuy nhiên không thể bảo đảm một tương lai tươi sáng, vì điều này phụ thuộc vào việc Chính phủ Việt Nam theo đuổi các chính sách đúng đắn và tạo ra những nền tảng tốt cho việc kinh doanh phát triển một cách vững chắc. Những thách thức lớn nhất bao gồm cải thiện hệ thống giáo dục, phát triển cơ sở hạ tầng, chống tham nhũng và cải cách các doanh nghiệp nhà nước.
  Bình luận (13)
Các ý kiến bạn đọc được đăng tải không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tòa soạn. VnEconomy có thể biên tập lại ý kiến của bạn nếu cần thiết. Đang hiển thị 10/13 bình luận.
  • Đúng là việc dự báo theo chiều hướng tích cực sẽ mang lại một cách nhìn lạc quan hơn. Tuy nhiên hiện nay nền kinh tế thế giới đang bị khủng hoảng nặng nề, hầu như các chuyên gia kinh tế trên thế giới đều đưa ra các con số không mấy khả quan vì đó là thực tế hiện nay.

    Việt Nam chúng ta là thành viên của WTO, nên sự tác động này không phải là nhỏ. Vậy dự báo theo con số thật cũng là một sự chuẩn bị tâm ký cho chúng ta,hãy đối mặt với thực tế để cùng nhau đưa ra giải pháp tốt nhất.

    21:06 (GMT+7) - Thứ Năm, 14/5/2009 Trả lời Thích
  • Mình nghĩ đôi khi dự báo theo chiều hướng lạc quan lại làm cho niềm tin vào nền kinh tế của người tiêu dùng và nhà đầu tư tăng lên. Theo điều tra thì niềm tin và lạc quan vào nền kinh tế nước nhà của người tiêu dùng và nhà đầu tư Việt Nam là cao so với các nước trên thế giới.

    08:14 (GMT+7) - Chủ Nhật, 10/5/2009 Trả lời Thích
  • Tôi nhớ không nhầm thì 1 hay 2 năm truớc đây, Việt Nam mà cụ thể là người dân Việt Nam chúng ta được một tổ chức quốc tế đánh giá là có cách suy nghĩ - sống lạc quan và hạnh phúc nhất thế giới!

    Tôi đồng tình với sự cần có tự tin, lạc quan về tuơng lai của bạn Vũ Mạnh Cường và được cụ thể hoá của bạn Nguyễn Tuấn Anh.

    08:33 (GMT+7) - Thứ Hai, 23/3/2009 Trả lời Thích
  • Tôi hoàn toàn nhất trí với anh Long.

    Dự báo luôn có sai số. Nhưng cơ quan nào ở Việt Nam sẽ ngồi làm việc đó đây? Và hàng tháng họ nên điều chỉnh lại dự báo dựa trên tình hình thực tế chứ không chỉ đưa ra dự báo từ đầu năm rồi đến cuối năm mới điều chỉnh.

    Vấn đề nữa là Tổng cục thống kê nên lấy số liệu thống kê vào đầu tháng sau để không phải sửa lại số liệu hàng tháng như hiện nay. Vừa lãng phí nguồn lực vừa mất thì giờ và làm giảm giá trị của số liệu thống kê được công bố..

    17:54 (GMT+7) - Thứ Sáu, 20/3/2009 Trả lời Thích
  • Bao giờ chúng ta mới chấm dứt cái bệnh "say dự báo"?

    Người ta dự báo chúng ta tăng trưởng 0,3% hay 30% không trực tiếp làm hại hay làm lợi cho chúng ta điều gì cả. Không nên mất thời gian tranh cãi vô ích về con số. Chúng ta phản đối hay đồng ý thì được cái gì?

    Cái cần để ý là để tính toán ra con số ấy, người ta đã có những giả định, nhận xét, đánh giá gì khác với chúng ta? có cái gì người ta thấy mà chúng ta không thấy không? Có thì chúng ta sửa lại nhận thức của mình, không thì thôi.

    Đó mới là lợi ích của việc xem xét, trao đổi. Chứ chuyện khăng khăng đi cãi đúng sai về một con số dự báo chẳng có ý nghĩa gì cả.

    10:21 (GMT+7) - Thứ Sáu, 20/3/2009 Trả lời Thích
  • Tôi cho rằng ý kiến của ông Justin Wood là không có căn cứ chi tiết, chỉ dựa vào nền kinh tế chung của toàn cầu mà không có cái nhìn cụ thể vào nền kinh tế nước ta hiện giờ.

    Tôi đồng ý với mức tăng trưởng GDP 4,5%.

    16:52 (GMT+7) - Thứ Năm, 19/3/2009 Trả lời Thích
  • Tronng bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang gặp phải những khó khăn và thử thách rất lớn như hiện nay thì mỗi người chúng ta cần phải lạc quan và tin tưởng vào sự điều hành của Nhà nước, không nên quá “câu nệ” vào những dự báo.

    Kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm đã có những dấu hiệu tốt hơn: thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán đã sôi động hơn, xuất khẩu gạo và một mặt hàng khác vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng, mức độ lạm phát đã được kìm chế…

    Tôi nghĩ nếu ngay cả người dân trong nước và Chính phủ Việt Nam không tự tin và suy nghĩ theo chiều hướng tích cực thì làm sao mà các nhà đầu tư nước ngoài có thể tin tưởng và tiếp tục đầu tư vào Việt Nam được.

    Tất nhiên cũng cần hết sức tránh sự chủ quan và không chịu nhìn nhận những yếu kém, tiêu cực. Với chính sách và sự cố gắng của Chính phủ cũng như mỗi người dân, tôi tin Việt Nam sẽ sớm vượt qua được những khó khăn đang gặp phải và vững bước trên con đường phát triển.

    10:58 (GMT+7) - Thứ Năm, 19/3/2009 Trả lời Thích
  • Về cơ bản, tôi đồng ý với những lập luận của ông Justin Wood đối với các nước phát triển, nhưng không đồng ý với những lập luận đó đối với Việt Nam.

    Ba yếu tố tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam, Xuất khẩu - Tiêu dùng nội địa - Đầu tư nước ngoài, ông cho rằng sẽ bị suy giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên, tôi cho rằng khủng hoảng toàn cầu đang là cơ hội cho Việt Nam cất cánh.

    Trước tiên, nói về xuất khẩu. Hàng xuất khẩu Việt Nam hiện nay, chủ yếu là các mặt hàng thiết yếu như gạo, nông sản, áo quần, giầy chứ không phải là đồ xa xỉ phẩm, dù khủng hoảng, họ vẫn phải ăn, phải mặc.

    Thực tế các số thống kê chỉ ra rằng tổng doanh số xuất khẩu hai tháng đầu năm 2009 đạt 94,9 % so với cùng kỳ năm 2008, trong khí đó các mặt hàng nông, thuỷ sản hầu như không giảm.

    Đặc biệt xuất khẩu gạo đạt 213,2 %, hàng dệt máy đạt 100,7 % so với cùng kỳ 2008 (số liệu xuất nhập khẩu tháng 2, năm 2009 trên trang web VnEconomy).

    Khách hàng mục tiêu hiện nay của Việt Nam tại nước ngoài cũng chủ yếu là tầng lớp thu nhập thấp. Cũng tương tự như tầng lớp thu nhập thấp, tầng lớp thu nhập cao hơn cũng cần ăn, cần mặc.

    Do khó khăn về kinh tế, họ sẽ có xu hướng mua những mặt hàng thấp cấp hơn thời trước một chút, thay vì mua đồ hàng hiệu như Louis Vuitton, Versace, v.v. họ muốn tìm kiếm những mặt hàng có chất lượng gần bằng nhưng với giá rẻ hơn.

    Đó sẽ là cơ hội cho dệt may Việt Nam khi đầu tư hơn về công nghệ, chất lượng, mẫu mã, với chính sách giá, chính sách marketing, quảng bá, thương hiệu, chúng ta hoàn toàn có thể thâm nhập được vào đoạn thị trường trung và cao cấp này, áo sơ mi An Phước là một ví dụ.

    Về gạo cũng tương tự, có thể phân một vùng, trồng loại giống ngon hơn, phân loại, chế biến xay, xát kỹ hơn, bao bì đẹp và hấp dẫn hơn. Gạo Việt Nam cũng sẽ hoàn toàn có thể thâm nhập vào đoạn thị trường cao cấp hơn.

    Trong tâm lý lo ngại giảm xuất khẩu do khủng hoảng, chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam chịu khó tìm tòi, thâm nhập vào các nước khác như Nam Mỹ, châu Phi, các nước Trung Đông.

    Chúng ta thấy điều đó qua những chuyến viếng thăm những đất nước này của các vị lãnh đạo Việt Nam. Ví dụ cơ hội xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường mới, Brazil là một ví dụ.

    Nếu chúng ta tận dụng được các cơ hội này, có thể nói, khủng hoảng là cơ hội cho xuất khẩu Việt Nam vươn lên một tầm cao mới, thương hiệu Việt cũng được nâng tầm hơn.

    Thứ hai, nói về tiêu dùng nội địa. Khi xuất khẩu phát triển, sản xuất phát triển, không có lý gì mà tiêu dùng lại giảm đi, nhất là khi điều thứ ba dưới đây là khả quan.

    Thứ ba, nói về đầu tư nước ngoài.

    Chúng ta không nên nghĩ khi gặp khủng hoảng tài chính, nghĩa là họ không còn tiền. Thực chất, không ai chôn tiền hoặc vàng mà chỉ chuyển từ túi người này sang túi người khác, từ doanh nghiệp phá sản sang các thành viên hoặc bên thứ ba, từ nhà đầu tư chứng khoán gần đây sang những người đã bán cổ phiếu cho họ trước đó, từ các ngân hàng, các nhà đầu tư nhỏ vào bất động sản, nghĩa là vào những người bán đất, vật liệu xây dựng, công nhân xây dựng.

    Tóm lại, tiền họ vẫn không thiếu, chỉ có điều đầu tư vào đâu, an toàn và có lợi. Vào bất động sản ư? Không được, thị trường bất động sản đang đóng băng tại Mỹ và các nước phát triển. Vào thị trường chứng khoán thì càng không, giá cổ phiếu đang rớt thảm hại và bấp bênh. Họ sẽ chờ và tìm cơ hội.

    Việc Việt Nam chúng ta cần làm là tạo ra các dự án đầu tư thật sự hấp dẫn, làm marketing các dự án thật tốt. Cơ hội thu hút đầu tư vào Việt Nam sẽ càng cao. Thử hình dung một dự án xây dựng cơ sở hạ tầng (BOT) tại khu Hà Nội mở rộng, cạnh tranh với Singapore trong việc thu hút các văn phòng nước ngoài vào Việt Nam.

    Với khu "Hà Nội mới" hiện đại, chúng ta sẽ hoàn toàn có đủ điều kiện cạnh tranh với Singapore trong việc tạo ra một trung tâm dịch vụ văn phòng, trụ sở, đầu não của các công ty lớn, cảng biển, vận chuyển. Một thành phố hiện đại nằm trong một vùng địa lý giàu tiềm năng du lịch thiên nhiên phong phú sẽ hơn hẳn một trung tâm văn phòng khô khan, chật hẹp như Singapore hiện nay.

    Xem thêm:
    http://dantri.com.vn/diendandantri/Giai-phap-quy-hoach-phat-trien-thu-do-Ha-oi/2008/4/226296.vip).

    Với ba điểm đã phân tích, nếu biết tận dụng cơ hội, tôi cho rằng thời điểm này là thời điểm tuyệt vời để nền kinh tế Việt Nam cất cánh.

    Điều quan trọng là dám nghĩ, dám làm và đặc biệt năng động, kể cả từ chính phủ đến các doanh nghiệp, người dân.

    01:52 (GMT+7) - Thứ Năm, 19/3/2009 Trả lời Thích
  • Dự đoán của ông Justin Wood là không có cơ sở dù ông là môt chuyên gia kinh tế hàng đầu. Theo tôi,tăng trưởng của Việt Nam sẽ có ảnh hưởng do khủng hoảng, song GDP sẽ đạt trên 5% vì xuất khẩu sẽ giảm song không đến mức như ông Justin đề cập.

    Đầu tư của Nhà nước và tiêu dùng của người dân vẫn đạt mức cao.

    12:51 (GMT+7) - Thứ Tư, 18/3/2009 Trả lời Thích
  • Theo quan điểm của tôi, dự báo của EIU là hợp lý. Điều này cho thấy được thực chất của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2009.

    Thông thường 3 yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế đó là vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩu và tiêu dùng. Trong đó, xuất khẩu Việt Nam được dự báo giảm 31% năm 2009, vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh, trong khi tiêu dùng trong nước không tăng. Vốn giải ngân các dự án cũng giảm thì mức dự báo trên hoàn toàn không gây sốc, mà nó hợp lý trong thời kỳ suy thoái.

    10:40 (GMT+7) - Thứ Tư, 18/3/2009 Trả lời Thích
Xem tiếp bình luận
Bình luận của bạn
Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.
Gõ Telex Gõ VNI
Chọn hình đại diện cho bình luận của bạn?